Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông. - Nguyễn Bá Học

Trang chủ > Bài viết > Chi tiết

Bài thơ Á Tế Á ca' của Tán Thuật

Thứ Hai, 08/06/2015 10:59, Lượt xem:3219

Về tác giả của bài thơ, xin mời đọc bài 'Á Tế Á ca' thực sự là của ai? của Lại Nguyên Ân đăng trên Thethaovanhoa.vn

Bản sau đây chép từ trang vanhoanghean.com.vn :

 

HOÁN TỈNH QUỐC DÂN CA

(Á-TẾ-Á CA)

Văn bản đăng báo “Cười” ở Huế, 1937-38,

chủ bút Trần Thanh Mại;

có đối chiếu với văn bản trong sách

“Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX” (1961)

do Đặng Thai Mai sưu tầm và tuyển chọn. 

 

Á-Tế-Á năm châu là bực nhất,                                 (1)

Người nhiều hơn mà đất cũng nhiều hơn.

Cuộc đời mở hội doanh hoàn,

Anh hùng bốn bể giang sơn một nhà.

 

Gẫm từ thuở Âu La tìm đất,                                     (5)

Vượt Chi Na qua Nhật đến Triều Tiên.

Xiêm La, Diến Điện gần liền,

Cao Man, Đại Việt thông miền Ai Lao.

Thịt một mảnh trăm dao xâu xé,

Chiếc kim âu chẳng mẻ cũng khôn lành.                  (10)

Tôi con Pháp, tớ thầy Anh,

Nín hơi đại Đức, nép mình cường Nga.

Gương Ấn Độ có xa đâu đó,

Chẳng máu đào nhưng cùng họ da vàng.

Mênh mông một dải Đông Dương,                         (15)

Nước non quanh quất trông càng thêm đau.

 

Cờ độc lập đứng đầu phất trước,

Nhật Bản kia vốn nước đồng văn.

Phương Đông nổi hiệu duy tân,

Nhật hoàng Minh Trị anh quân ai bì.                      (20)

Giống thần vũ riêng về một họ,

Vầng phù tang soi đỏ góc trời.

Kể đời trăm, hai mươi hai,

Năm, hai nghìn lẻ, năm mươi có thừa.

Sẵn cơ hội trời đưa lại đó,                                     (25)

Chốn Kinh thành Giang Hộ rời sang.

Dẹp Mạc phủ, bỏ Phiên bang,

Đổi giòng chính sóc, thay làng y quan.

Khắp trong nước lập đoàn kết hội,

Nha học đường đã ngoại ba muôn                       (30)

Việc kỹ nghệ, việc bán buôn,

Nơi lò đúc sắt, nơi khuôn nấu đồng.

Chè, tơ, lụa, gai, bông, nhung, vũ,

Với đồ sơn, vân mẫu, pha lê,

Gươm với tán, quạt với xe,                                   (35)

Đủ mùi hải lục, họp nghề nông thương.

Bốn mốt triệu cải lương nhân số,

Các sắc quân ước độ triệu người,

Chuvi mặt đất chạy dài,

Tính vuông pháp lý, bốn hai vạn thừa.                   (40)

Bốn mốt huyện năm xưa mới đổi,

Đầu Nại-Xuyên mà cuối Lộc-Nhì,

Đông Kinh ba phủ mười kỳ,

Trong thì Đại Bản, ngoài thì Kinh đô.

Sảnh Bắc Hải dư đồ quanh bể,                                 (45)

Huyện Xung Thằng chưa kể đất Lưu Cầu,

Gò Đối Mã bốn bề sâu,

Nghiêm nguyên đặt súng, Trúc phu đỗ tàu.

Nhà giây thép đâu đâu cũng đặt,

Thuyền thương luân khắp mặt đại dương.                 (50)

Kìa thiết lộ, nọ ngân hàng,

Đăng đài, báo quán, ngổn ngang phụ đầu.

Cuộc biến pháp năm đầu Minh Trị,

Ba mươi năm dân trí mở mang,

Chữ Hán tự, chữ Tây dương,                                     (55)

Mọi bài diễn thuyết, các trường chuyên môn.

Đất Đại Bản mở đồn đúc súng,

Xưởng Đông Kinh riêng cũng một tòa,

Trường Kỳ thuyền cục mở ra,

Dã Tân, Tu Hạ, ấy là hải quân.                                   (60)

Tàu với súng đã trăm phần chấn chỉnh,

Lại ngư lôi pháo đỉnh ai tày,

Quan quân luyện tập đêm ngày,

Mọi nghề so với Thái Tây kém gì.

Đội mã, bộ, lục sư các trấn,                                       (65)

Tự Ha-ri đến tận Tát-ma,

Tám đảo rộng, bốn gò xa,

Phú San cao ngất, Tỳ Bà trong veo.

Tướng, tá, úy, cũng theo Tây lệ,

Lại công binh, pháo vệ chỉnh tề.                               (70)

Đồng bào nghĩa khí gớm ghê,

Cái thù nô lệ quyết thề trả xong!

 

Năm Giáp Ngọ đùng đùng sóng gió,

Vượt quân sang thẳng trỏ Đài Loan,

Quân Lục ảo, tướng Đại San,                                   (75)

Ra tay cho biết cái gan anh hùng.

Đông tam tỉnh đã thu trong tay áo,

Bọn trắng da ngơ ngáo giật mình.

Cuộc hòa đâu khéo thình lình,

Chủ trương này bởi Nga đình vẽ khôn.                    (80)

Bụng cứu quốc ghê hồn Nhật Bản,

Giận xung quân khôn cản nghĩa đồng cừu,

Đã toan giở súng quay tàu,

Y Đằng khôn khéo mưu sâu vãn hồi,

Nhận bồi khoản lấy Bành, Đài nhượng địa,                (85)

Trong mười năm rồi sẽ xem nhau!

 

Nga kia nước lớn lại giàu,

Bên giường giấc ngáy dễ hầu chịu yên.

Hàn với Mãn lợi quyền thu sạch,

Xe Nhĩ Tân, tàu lạch Sâm Uy,                                 (90)

Cõi đông trong cuộc an nguy,

Có ta ta phải phù trì giống ta.

Việc khai hấn chắc là quyết liệt,

Đất Á Đông thấy huyết phen này,

Năm Giáp Thìn, tháng hai tây,                                 (95)

Chiến thư hai nước định ngày giao tuy.

Trận thứ nhất Cao Ly lừng tiếng,

Khắp hoàn cầu muôn miệng đều khen.

Sa trường xung đột mấy phen,

Ngọn cờ Áp Lục, tiếng kèn Liêu Dương.                  (100)

Cửa Lữ Thuận mơ màng khói bạc,

Thành Phụng Thiên ngơ ngác non xanh,

Hải quân một trận tan tành,

Thái Hoa cắt núi, Đông Thanh xẻ đường.

Sức hùng vũ ai đương lại được,                             (105)

May điều đình có nước Hoa Kỳ,

Khéo đem hòa ước giải vi,

Nếu không Bỉ-đắc còn chi là đời.

Hội Vạn quốc đặt bày công nghị,

Chấu đá voi sự ấy cũng nực cười.                           (110)

Kể trong hòa khoản hai mươi,

Bề nào Nga cũng chịu lui trăm phần.

Cuộc tang hải khuất thân từng lúc,

Trong liệt cường nay cũng chen vai.

Khen thay Nhật Bản nhân tài,                               (115)

Từ đây danh vị còn dài về sau.

 

 

Ngồi mà nghĩ thêm sầu lại tủi,

Nước Nam ta gặp buổi truân chuyên,

Dã man quen thói ngu hèn,

Cũng như Minh Trị dĩ tiền mấy năm.                    (120)

Từ Đại Pháp đem tân bảo hộ,

Mở trí khôn mới độ một và,

Non sông thẹn với nước nhà,

Quan là tượng gỗ, dân là thân trâu,

Việc giây thép việc tàu việc pháo,                       (125)

Việc luyện binh, việc giáo học đường,

Việc kỹ nghệ, việc nông thương,

Việc khai mỏ khoáng, việc đường hỏa xa,

Giữ các việc chẳng qua người nước,

Kẻ chức bồi, người tước cu li,                             (130)

Thông ngôn ký lục gì gì,

Mãn đời lính tập chọn vì quan sang.

Các hạng thuế các làng tăng mãi,

Hết đinh điền rồi lại trâu bò,

Thuế chó cũi, thuế lợn lò,                                  (135)

Thuế diêm, thuế rượu, thuế đò, thuế xe,

Thuế các chợ, thuế chè, thuế thuốc,

Thuế môn bài, thuế nước, thuế đèn,

Thuế nhà cửa, thuế chùa chiền,

Thuế rừng tre gỗ, thuế thuyền bán buôn,             (140)

Thuế rạ rơm thông luôn thuế rác,

Thuế mái hiên, thuế các hàng cơm,

Thuế gò, thuế bãi, thuế cồn,

Thuế người chức sắc, thuế con đĩ đàn.

Thuế dầu mật, thuế sơn, mọi chỗ,                     (145)

Thuế cháo rau, thuế lúa, thuế bông,

Thuế tơ, thuế sắt, thuế đồng,

Thuế chim thuế cá khắp trong ba kỳ.

Nhiều hạng thuế kể chi cho xiết,

Thuế xia kia mới thật lạ lùng,                           (150)

Làm cho thập thất cửu không,

Làm cho xơ xác khốn cùng mới thôi.

Lại nghe nói Lào Kay, Yên Bái,

Mấy muôn người xẻ núi đào sông,

Khổ thay làm chướng nghìn trùng,                    (155)

Nước sâu quăng xác, hang cùng chất xương,

Nỗi diệt chủng vừa thương vừa sợ,

Người nước ta biết có còn không?

Nói ra ai cũng đau lòng,

Cha con khóc lóc, vợ chồng thở than,                 (160)

Cũng có lúc bầm gan tím ruột,

Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra.

Cũng xương cũng thịt cũng da,

Cũng hòn máu đỏ giống nhà Lạc Long,

Thế mà chịu trong vòng trói buộc                      (165)                        

Bốn mươi năm nhơ nhuốc lầm than,

Than ôi Bách Việt giang sơn,

Văn minh đã sẵn khôn ngoan có thừa.

Hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh?

Anh em ta rày tính sao đây?                             (170)

Nhật là bạn, Pháp là thầy,

Trí khôn phải học, nghề hay phải tìm.

Việc tân học kíp đem dùng trước,

Hội dân đoàn cả nước cùng theo.

Sự buôn ta giữ làm đầu,                                   (175)

Mọi nghề cùng ghé địa cầu một vai.

Bây giờ kể còn dài khôn xiết,

Chữ tự do xin hết một lòng.

Gương Nhật Bản đất Á Đông,

Giống ta ta phải soi chung kẻo mà.                   (180)

Dạ học thử dần dà mở rộng,

Thày Lang Sa rồi cũng nể nang.

Có khi đặt chữ bằng hàng,

Thay đời nô lệ ra phường văn minh.

Kìa thuở trước như Anh, Pháp, Đức,                (185)

Cũng chẳng qua cùng cực tắc thông,

Họa may trời có chiều lòng,

Việt Nam đứng lại phương Đông một mình.

 

 

Thân phiêu bạt đã đành vô lại,

Bấy nhiêu niên Thượng Hải, Hoành Tân.         (190)

Chinh Nga trong lúc hoàn quân,

Tủi mình bô bá theo chân khải hoàn.

Nưng chén rượu ơn ban hạ tiệp.

Gạt hàng châu khép nép quỳ tâu.

Trời Nam mù mịt ngàn dâu,                           (195)

Gió thu như thổi dạ sầu năm canh.

Biết bao nỗi bất bình khôn dãi,

Mượn bút hoa mà gởi lại quốc âm.

Thân già bao quản cát lầm,

Khuyên ai dốc chữ đồng tâm sau này.              (200)

 

TÁN THUẬT di bút

Nguồn:

Tuần báo “Cười”, Huế, s. 5 (22 Avril 1938), tr. 2 – 3.

Chú thích, Khảo dị (Lại Nguyên Ân thực hiện):

Câu 1: Á-Tế-Á: Châu Á (phiên âm từ  “Asia”) 

Câu 5: Âu La: Châu Âu (phiên âm từ  “Europe”).

Câu 19: Đặng Thai Mai (Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX) ghi là: Thái Đông.

Câu 20: Đặng Thai Mai (sđd.) ghi: Dòng Thần vũ…; Ý câu này: nước Nhật từ ngày thành lập đến nay chỉ có một dòng vua (Nhật hoàng).

Câu 23: Kể đời trăm hai mươi hai: Trần Thanh Mại (báo Cười) chú: “22 è siecle” (chữ Pháp) tức là 22 thế kỷ; Đặng Thai Mai (sđd.) chú: Minh Trị là đời vua thứ 122 trong dòng dõi Thiên hoàng Nhật Bản.

Câu 24: Năm: hai nghìn lẻ năm mươi có thừa: Trần Thanh Mại (báo  Cười) chú: “2050 années” (chữ Pháp): 2050 năm. Đặng Thai Mai (sđd.) chú: Tính cho đúng thì vào khoảng 1905, lịch sử Nhật Bản, kể từ Thiên hoàng thứ nhất (lên ngôi 600 năm Tr.CN) đã có 2.565 năm. 

Câu 26: Trần Thanh Mại (bđd.) chú: Giang Hộ = Tokyo; Đặng Thai Mai (sđd.) cho biết: bản của trường Viễn Đông Bác Cố chép: Chốn kinh thành Thần Hộ mới dời sang, là lầm, vì Thần Hộ (= Kobe) là hải cảng phía bắc vịnh Đại Bản; còn Giang Hộ  là khu vực Edo, từ 1868 (Minh Trị thứ nhất) kinh đô mới dời đến đây, gọi là Đông Kinh (Tokyo).

Câu 30: ba muôn: 30.000.

Câu 32: Đặng Thai Mai (sđd.): Nơi lò hấp bát, nơi khuôn đúc đồng.

Câu 35: Đặng Thai Mai (sđd.): Dao với quạt, tàn với xe

Câu 37: Đặng Thai Mai (sđd.): Bốn nhăm triệu

Câu 40: Trần Thanh Mại chú: (420.000 km2)

Câu 42: Nãi Xuyên: Kanagawa; Lộc-nhì: đảo Kagoshima

Câu 43: Đặng Thai Mai (sđd.): Đông Kinh ba phủ cận kỳ; cận kỳ: sát với kinh thành.

Câu 44: Đại Bản: Osaka; Kinh đô: Kyodo, kinh đô Nhật trước lúc duy tân.

Câu 45: Bắc Hải: Hokaido

Câu 46: Xung Thằng: Okinawa, tức đất Lưu Cầu (Rioukiou) ngày trước.

Câu 47: Gò Đối Mã: đảo Tsushima.

Câu 50: Đặng Thai Mai (sđd.): Đội thương thuyền khắp mặt đại dương.

Câu 51: thiết lộ: đường sắt.

Câu 52: Đăng đài: đèn soi cho các tàu bè nơi bến tàu; phụ đầu: bến tàu trên bờ biển.

Câu 59: Trường Kỳ: Nagasaki.

Câu 60: Dã Tân: chính là Tiểu Dã Tân: Inohama; Tu Hạ: chính tên là Hoàng Tu Hạ: Yokosuka, quân cảng Nhật trước vịnh Tokyo.

Câu 66: Đặng Thai Mai (sđd.): Từ Hà-di đến tận Tát-ma. Ha-di (hoặc Hari): tên đảo lớn Yeso ở phía bắc lãnh thổ Nhật Bản; Tát-ma: Satsuma.

Câu 68: Phú San: tên núi trên bờ tây đảo Hondo; Tỳ Bà: hồ Biwa gần Kyodo.

Câu 73: năm Giáp Ngọ: 1894. Đặng Thai Mai (sđd.) không tán thành thái độ tác giả bài ca trong việc này, lưu ý rằng đây là chiến dịch ăn cướp của đế quốc Nhật.  

Câu 75: Đặng Thai Mai (sđd.): Quân Lục-úc, tướng Đại-sơn; Lục-úc (hay Lục-ảo): Mutsu; Đại-sơn: Oyama.

Câu 77: Đông tam tỉnh: ba tỉnh đông bắc Trung Quốc (Phụng Thiên, Cát Lâm, Hắc Long Giang).

Câu 81: Đặng Thai Mai (sđd.): Lòng ái quốc…

Câu 84: Y-đằng: Ito

Câu 85: Bành, Đài: Bành Hồ và Đài Loan.

Câu 89: Hàn: Triều Tiên; Mãn: Mãn Châu.

Câu 90: Nhĩ-tân: Cáp-nhĩ-tân (Harbine), thành phố ở Trung Quốc; Sâm-uy: tức Hải-sâm-uy (Vladivostok), hải cảng ở viễn đông của Nga.

Câu 91: Đặng Thai Mai (sđd.): Á Đông trong cuộc an nguy.

Câu 92: Đặng Thai Mai (sdđ.): Có ta ta phải phù trì chúng ta. Trần Thanh Mại (bđd.) chú: “Cụ Tán Thuật có làm quan võ Nhật đánh Nga”, giúp người đọc hiểu hai câu này là tâm niệm, là sự tự biện hộ của Tán Thuật về việc tham dự chiến tranh Nga-Nhật.

Câu 95: Đặng Thai Mai (sđd.) cho biết: bản chép tay của trường Viễn Đông Bác Cổ chép nhầm ra “tháng Chạp”. Năm Giáp Thìn: 1904.

Câu 96: giao tuy: bước vào tình thế chiến tranh.

Câu 97: Cao Ly: Triều Tiên.

Câu 100: Áp Lục: tên sông ở bắc Triều Tiên giáp Trung Quốc; Liêu Dương: thành phố ở tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.

Câu 101: Lữ Thuận: tên cảng ở tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc, người Tây gọi là Port-Arthur (cảng Arthur), nơi từng xảy ra trận đánh lớn giữa quân Nhật và quân nhà Thanh vào 21/11/1894.

Câu 102: Phụng Thiên: thành phố Thẩm Dương thuộc tỉnh Liêu Ninh, Trung Quốc.  

Câu 105: Đặng Thai Mai (sđd.): Sức hùng vĩ…

Câu 108: Bỉ-đắc: tức thành phố Saint Petersbourg của Nga.

Câu 109: Đặng Thai Mai (sđd.): Hội Vạn quốc diễn bài công nghị.

Câu 111: Đặng Thai Mai (sđd.): Kể trong hòa khoản mười hai.

Câu 112: Đây là cuộc chiến giữa hai đế quốc Nga, Nhật, nhằm tranh giành quyền kiểm soát vùng Mãn Châu và Triều Tiên. Đặng Thai Mai (sđd.) phê phán thái độ và sự đánh giá của tác giả bài ca này về ý nghĩa và kết cục chiến tranh Nga-Nhật (1904-05). Thật ra, tác giả Tán Thuật đứng trong hàng ngũ quân Nhật, cảm xúc về sự nổi lên hùng cường của Nhật Bản ở đây vừa thể hiện sự hân hoan của người trong cuộc, vừa bộc lộ mong ước của một người ngoại quốc, đến đây từ một nước chậm phát triển, đang bị đô hộ.    

Câu 114: Đặng Thai Mai (sđd.): Đám liệt cường nay cũng chen vai.

Câu 115: Đặng Thai Mai (sđd.): Khen thay Nhật Bản anh tài.

Câu 116: Đặng Thai Mai (sđd.): Từ đây danh dự còn dài về sau!

Câu 120: Đặng Thai Mai (sđd.): Cũng như Minh Trị dĩ tiền mọi năm.

Câu 121: Đặng Thai Mai (sđd.): Từ nước Pháp đam tâm bảo hộ.

Câu 125: Đặng Thai Mai (sđd.): Vua là tượng gỗ…

Câu 128: Đặng Thai Mai (sđd.): Việc khai mỏ quặng…

Câu 130: Đặng Thai Mai (sđd.): Người chức bồi…

Câu 131: Đặng Thai Mai (sđd.): Thông ngôn ký lục chi chi

Câu 141: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế đến cả phấn son phường phố

Câu 142: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế những anh thuốc lọ gầy mòn. Đặng Thai Mai ghi chú: bản chép tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ bỏ sót hai câu 141-142 này; không rõ người biên soạn lấy hai câu này từ nguồn nào.

Câu 144: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế người chức sắc, thuế con hát đàn.

Câu 146: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế gạo, rau, thuế lúa, thuế bông,

Câu 148: Đặng Thai Mai (sđd.): Thuế chim thuế cá khắp trong lưỡng kỳ.

Câu 149: Đặng Thai Mai (sđd.): Các hạng thuế…

Câu 152: Đặng Thai Mai (sđd.): Làm cho xơ xác khốn cùng chưa thôi.

Câu 155: Đặng Thai Mai (sđd.): Cực thay lam chướng nghìn trùng

Câu 156: Đặng Thai Mai (sđd.): Sông sâu ném xác, hang cùng chất xương.

Câu 157: Đặng Thai Mai (sđd.): Họa diệt chủng…

Câu 158: Đặng Thai Mai (sđd.): Nòi giống ta…; Đặng Thai Mai ghi chú: bản chép tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ sót mất đoạn từ “Làm cho thật thấp cửu không”  đến “Nòi giống ta biết có còn không”.

Câu 159: Đặng Thai Mai (sđd.): Nói ra ai chẳng sờn lòng; và ghi chú: bản viết tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ chép: “Thôi thì thôi, cũng dầu lòng!”

Câu 160: Đặng Thai Mai (sđd.): Cha con tủi nhục, vợ chồng lìa tan!

Câu 161: Đặng Thai Mai (sđd.): Nghĩ lắm lúc thâm gan tím ruột.

Câu 162: Trần Thanh Mại (bđd.) bỏ lửng 3 từ cuối; Đặng Thai Mai (sđd.): Vạch trời kêu mà tuốt gươm ra.

Câu 163: Đặng Thai Mai (sđd.): Cùng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long.

Câu 166: Trần Thanh Mại (bđd.) bỏ lửng 4 từ cuối; Đặng Thai Mai (sđd.): Thế mà chịu trong vòng trói buộc.

Câu 169: Đặng Thai Mai (sđd.): Hồn mê mộng…

Câu 170: Đặng Thai Mai (sđd.): Anh em ta phải tính làm sao, và ghi chú: bản chép tay của Trường Viễn Đông Bác Cổ là: Anh em ta phải tính sao đây?

Câu 171: Đặng Thai Mai (sđd.): Nhật là họ, Pháp là thù; và ghi chú: bản của Viễn Đông Bác Cổ là: Nhật là họ, Pháp là thầy.

Câu 172: Đặng Thai Mai (sđd.): Mưu cao phải học, thù sâu phải đền; và ghi chú: bản của Viễn Đông Bác Cổ là: Trí khôn phải học, nghề hay phải tìm.

Câu 173: Đặng Thai Mai (sđd.): Nền tân học kíp nên dựng trước; và ghi chú: bản của Viễn Đông Bác Cổ là: Việc tân học kíp đem dựng nước.

Câu 174: Đặng Thai Mai (sđd.): Hội dân đoàn, cả nước cùng nhau.

Câu 175: Đặng Thai Mai (sđd.): Việc buôn ta lấy làm đầu.

Câu 177: Đặng Thai Mai (sđd.): Bây giờ kể còn dài chưa xiết.

Câu 178: Đặng Thai Mai (sđd.): Chữ tự do xin kết một lòng.

Câu 180: Đặng Thai Mai (sđd.): Việc học thức dần dà mở rộng.

Câu 184: Đặng Thai Mai (sđd.): Thay đàn nô lệ làm phường văn minh.

Câu 188: Đặng Thai Mai (sđd.): Việt Nam đứng lại phương Đông có mình.

Câu 189: Đặng Thai Mai (sđd.): Thân xiêu bạt…

Câu 190: Thượng Hải: thành phố lớn, trung tâm thương mại ở miền Đông Nam Trung Quốc; Hoành Tân: tức Yokohama, thành phố lớn, có cảng biển lớn, thủ phủ tỉnh Kanagawa của Nhật Bản.

Câu 191: Đặng Thai Mai (sđd.): Chinh Nga nhân lúc hoàn quân.

Câu 192: Đặng Thai Mai (sđd.): Xót mình bôn bá, theo chân khải hoàn.

Câu 193-194: Trần Thanh Mại (bđd.) chú: “Vua Minh Trị ban rượu thưởng rồi cụ /tức Tán Thuật/ ôm gối Thiên hoàng kể rõ tâm sự của mình”; thông tin này phải chăng Trần Thanh Mại có được từ Phan Bội Châu?

Câu 197: Đặng Thai Mai (sđd.): Biết bao nỗi bất bình không giải.

Câu 199: Đặng Thai Mai (sđd.): Thân tàn bao quản cát lầm.

Bình luận(0)

Bình luận bài viết


Bình chọn

Mỗi lần đi nhậu, bạn thường uống bao nhiêu chai bia?





|



Số người truy cập